giong lua ngan ngay

Việc luyện tập giọng nói bằng cách luyện đọc các mẫu luyện âm được xem là một cách tốt để cải thiện giọng nói tự nhiên của bạn. Với cách đứng trước gương và tự mình đọc các mẩu văn luyện giọng sẽ là cách hiệu quả nhất để bạn có một giọng nói tốt Đề tài của bài viết này sẽ nói về tieng hot chich choe than mp3 download. Nếu bạn đang tìm hiểu về tieng hot chich choe than mp3 download thì hãy cùng chúng tôi khám phá về đề tài tieng hot chich choe than mp3 download trong bài viết Luyện giọng chích chòe lửa 2019 - Nhiều giọng, ngân dài, kéo thuốc lào ! này nhé. Ngày 22/1, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành danh mục bổ sung 10 giống lúa, 3 giống ngô được phép sản xuất, kinh doanh (SX, KD) ở Việt Nam tại Thông tư 06/2013/TT-BNNPTNT. Ms. Minh Nguyệt Theo đó, tỉnh Hà Giang và một số tỉnh miền núi phía Bắc được phép SX, KD giống lúa lai 3 dòng Cương ưu 725. " HAT GIONG LUA SIEU NGUYEN CHUNG " Hệ thống tìm kiếm được các Văn Bản liên quan sau : 36 CÔNG VĂN (Xem & Tra cứu Công văn) 430 TIÊU CHUẨN VIỆT NAM (Xem & Tra cứu) Nếu bạn cần Văn bản hay TCVN nào, Bấm vào đây. Kết quả 1-20 trong 1408 văn bản. LỌC KẾT QUẢ Bài 1: Lắng nghe lịch sử nước mình. 2. Thơ (Thơ lục bát) Bài 3. Yêu thương và chia sẻ. Bài 2: Miền cổ tích. Bài 4. Quê hương yêu dấu. Bài 3: Vẻ đẹp quê hương. CƠ QUAN CHỦ QUẢN: LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM. Giấy phép: số 536/GP-BTTTT, cấp ngày 19/11/2020. P. Tổng biên tập phụ trách: Nhà báo Nguyễn Thị Mai Hương. App Vay Tiền. BĐR27 thuộc nhóm giống ngắn ngày, vụ ĐX 105 – 110 ngày và HT từ 95 – 100 ngày. Cao cây khoảng 106cm, thân to và cứng khó bị đổ ngã. Kháng rầy nâu và bệnh đạo ôn cấp 1 - 5, hạt bầu, chất lượng cơm trung bình. BĐR27 chống chịu sâu bệnh rất tốt, năng suất ổn định 80 - 84 tạ/ha vụ ĐX và 70 tạ/ha vụ HT Giống lúa BĐR27 Rice Binh Dinh 27 tên thường gọi AN27 do Viện KHKT Nông nghiệp duyên hải Nam Trung Bộ lai tạo và chọn lọc đã hoàn tất khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng VCU từ vụ ĐX 2015 với kết quả, năng suất vượt các giống lúa đối chứng HT1 từ 17 - 20% và vượt giống lúa Khang dân từ 12 - 14%. BĐR27 thuộc nhóm giống ngắn ngày, vụ ĐX 105 – 110 ngày và HT từ 95 – 100 ngày. Cao cây khoảng 106cm, thân to và cứng khó bị đổ ngã. Kháng rầy nâu và bệnh đạo ôn cấp 1 - 5, hạt bầu, chất lượng cơm trung bình. Kết quả khảo nghiệm SX và thử nghiệm mô hình nhân giống diện rộng tại các tỉnh trong vùng như Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định… BĐR27 chống chịu sâu bệnh rất tốt, năng suất ổn định 80 - 84 tạ/ha vụ ĐX và 70 tạ/ha vụ HT. Ông Nguyễn Văn Siêng, Trưởng phòng NN-PTNT huyện Phú Hòa, Phú Yên cho biết, có nhiều chân đất trong huyện Phú Hòa năng suất giống lúa BĐR27 đạt 90 tạ/ha, nông dân rất thích. Bởi vậy, chỉ trong hai vụ ĐX 2016-2017 và HT 2017 diện tích các HTX tự nhân rộng đã đạt 700ha. Hiện nhóm tác giả đang gấp rút hoàn tất hồ sơ đề nghị Cục Trồng trọt công nhận cho SX thử giống lúa AN27 trên địa bàn. Thí nghiệm tiến hành đánh giá thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng và đa dạng di truyền của 23 mẫu giống lúa ngắn ngày và một giống dài ngày VN10 trong vụ xuân 2013 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian từ gieo đến trỗ các giống ngắn ngày là 74 đến 107 ngày và 157 ngày ở giống đối chứng. Trong đó thời gian xuất hiện lá thứ nhất đến làm đòng của các giống lúa ngắn ngày có biên độ biến động cao nhất là 25 ngày. Xây dựng cây đa dạng sử dụng 50 chỉ thị SSR nằm trên cả 12 nhiễm sắc thể có thể chia vật liệu ngắn ngày thành 5 nhóm với hệ số di truyền 0,78. Từ khóa Cây lúa, chỉ thị SSR, đa dạng di truyền, ngắn ngày. ABSTRACT This study aimed to evaluate the duration at different growth stages and genetic diversity of twenty early maturing rice EMRV varieties and one late maturing rice variety LMRV VN10 as check variety in 2013 spring season, Vietnam national University of Agriculture. The results showed that the days from sowing to heading in EMRV was in a range of 74 to 107 days and 157 days in LMRV. The period from first leaf and second leaf apperance and booting were diverse in which the most diverse stage was from second leaf to booting stage with 25 days difference. Phylogenetic tree was constructed with 50 SSR markers spread over 12 chromosomes and the EMRVs were divided in 5 groups at Polymorphic information content PIC = Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for free J. Sci. & Devel. 2014, Vol. 12, No. 4 461-467 Tạp chí Khoa học và Phát triển 2014, tập 12, số 4 461 ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN MỘT SỐ GIỐNG LÚA NGẮN NGÀY Nguyễn Quốc Trung1*, Lê Văn Trung1 , Nguyễn Thị Trang1, Nguyễn Thị Thùy Dương2 Nguyễn Thanh Tùng2, Nguyễn Văn Hoan2, Phạm Văn Cường2,3 1Khoa Công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam; 2Dự án DCGV, Học viện Nông nghiệp Việt Nam; 3Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Email* nqtrung Ngày gửi bài Ngày chấp nhận TÓM TẮT Thí nghiệm tiến hành đánh giá thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng và đa dạng di truyền của 23 mẫu giống lúa ngắn ngày và một giống dài ngày VN10 trong vụ xuân 2013 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian từ gieo đến trỗ các giống ngắn ngày là 74 đến 107 ngày và 157 ngày ở giống đối chứng. Trong đó thời gian xuất hiện lá thứ nhất đến làm đòng của các giống lúa ngắn ngày có biên độ biến động cao nhất là 25 ngày. Xây dựng cây đa dạng sử dụng 50 chỉ thị SSR nằm trên cả 12 nhiễm sắc thể có thể chia vật liệu ngắn ngày thành 5 nhóm với hệ số di truyền 0,78. Từ khóa Cây lúa, chỉ thị SSR, đa dạng di truyền, ngắn ngày. Evaluation of Genetic Diversity of Early Maturing Rice Varieties ABSTRACT This study aimed to evaluate the duration at different growth stages and genetic diversity of twenty early maturing rice EMRV varieties and one late maturing rice variety LMRV VN10 as check variety in 2013 spring season, Vietnam national University of Agriculture. The results showed that the days from sowing to heading in EMRV was in a range of 74 to 107 days and 157 days in LMRV. The period from first leaf and second leaf apperance and booting were diverse in which the most diverse stage was from second leaf to booting stage with 25 days difference. Phylogenetic tree was constructed with 50 SSR markers spread over 12 chromosomes and the EMRVs were divided in 5 groups at Polymorphic information content PIC = Keywords Early maturing rice varieties, genetic diversity, rice, SSR marker. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Nhu cầu nâng cao giá trị sản xuất lúa gạo đồng thời tăng hiệu quả sử dụng diện tích đất nông nghiệp đòi hỏi cần thiết phải rút ngắn thời vụ đất trồng lúa. Tại đồng bằng sông Hồng, sử dụng các giống ngắn ngày sẽ giúp người nông dân đỡ vất vả hơn trong vụ Xuân, tránh được rét cho mạ và thuận lợi hơn trong canh tác vụ Đông. Tại đồng bằng sông Cửu Long, canh tác các giống lúa ngắn ngày sẽ giúp tăng lên 3-4 vụ/năm hoặc tăng thời gian nghỉ giữa 2 vụ, tránh được bùng phát dịch hại như rầy nâu, vàng lùn xoắn lá. Trong công tác chọn tạo giống lúa ngắn ngày, việc thu thập và đánh giá nguồn gen là rất quan trọng. Hiện nay ở Việt Nam, nguồn gen ngắn ngày khá đa dạng gồm các giống bản địa và nhập nội từ nhiều nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Philipin IRRI… có cả nhóm japonica và indica. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu đánh giá, phân tích thời gian các giai đoạn và thời kỳ sinh trưởng để đánh giá vai trò các giai đoạn/thời kỳ tới tổng thời gian từ gieo đến thu hoạch để có các định hướng sử dụng trong lai tạo, cải tiến các giống lúa theo hướng ngắn ngày hơn. Đánh giá đa dạng di truyền một số giống lúa ngắn ngày 462 Ngoài ra, việc đánh giá đa dạng di truyền các mẫu giống ngắn ngày để phục vụ cho công tác chọn tạo giống là rất cần thiết. Nguồn gen đa dạng là cơ sở rất quan trọng để sử dụng các gen, alen phong phú trong các phép lai khác nhau, đồng thời, đa dạng di truyền còn là cơ sở để tạo nên ưu thế lai. Việc đánh giá đa dạng di truyền có thể được thực hiện dựa trên các đặc điểm hình thái, nông sinh học và ở mức độ phân tử ADN. Với các thành tựu về giải trình tự genome lúa, các bộ chỉ thị SSR phục vụ đánh giá đa dang di truyền được phát triển rất mạnh và có tính ứng dụng cao. Năm 2002, McCough đã công bố danh sách trên chỉ thị SSR mới phát hiện. Cho đến nay, theo thống kê có trên chỉ thị SSR trên cây lúa Monaco, 2013. Chính vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là thu thập và đánh giá thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng một số mẫu giống lúa ngắn ngày, đồng thời xác định đa dạng di truyền các giống này bằng chỉ thị SSR, qua đó nâng cao việc bảo tồn và khai thác hiệu quả nguồn gen quí này để cải tiến các giống lúa theo hướng ngắn ngày hơn. 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP Vật liệu 23 mẫu giống ngắn ngày và 1 mẫu giống dài ngày thu thập từ nhiều nguồn được gieo cấy trong vụ Xuân 2013 tại cánh đồng dự án JICA-DCGV, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Bảng 1. Phương pháp nghiên cứu Bố trí thí nghiệm Hạt nảy mầm được gieo trên khay đất có tạo các luống cách nhau 2cm để trong nhà kính, khoảng cách giữa các hạt là 1cm. Cây mạ 25 ngày tuổi được cấy ra ruộng theo phương pháp tuần tự không nhắc lại, mỗi ô 5m2, mật độ 33 khóm/1m2. Phương pháp theo dõi thời gian sinh trưởng theo tiêu chuẩn của IRRI, 2002 Thời điểm xuất hiện lá thứ nhất và thứ hai được ghi nhận vào cùng thời điểm 16h00 hàng ngày. Lá được coi là xuất hiện nếu hình thành đầy đủ các bộ phận phiến lá, cuống lá và bẹ lá. Thời điểm phân hóa đòng được theo dõi ở giai đoạn bước thứ 4 khi bông lúa phân hóa nhị đực và nhụy, bông lúa non dài 1-1,5cm. Thời điểm trỗ là thời điểm có 10% số cây trong giống trỗ thoát khoảng 5cm khỏi bẹ lá. Kết quả được xử lý thống kê bằng phần mềm Excel. Đánh giá đa dạng di truyền bằng chỉ thị SSR Tách chiết ADN mẫu lá được lấy 30 ngày sau khi cấy và được làm đông khô bằng chân không trước khi tiến hành tách chiết theo phương pháp CTAB của Doyle 1987. Bảng 1. Danh sách 23 giống ngắn ngày và 1 giống dài ngày Ký hiệu Tên giống Nguồn gốc Ký hiệu Tên giống Nguồn gốc S1 KD18 Trung Quốc S15 IR58 IRRI S2 VN10 Việt Nam S16 MTL163 Việt Nam S3 IR24 IRRI S17 HYMST Nhật Bản S4 Asominori Nhật Bản S18 P6 ĐB Việt Nam S5 AD11 Việt Nam S19 Kim23B Trung Quốc S6 OM5524 Việt Nam S20 Hoa sữa Mỹ S7 IRRI108 IRRI S21 OM1121 Việt Nam S8 IR50 IRRI S22 OM5930 Việt Nam S9 IRRI142 IRRI S23 OM6162 Việt Nam S11 Agaminmi Nhật Bản S24 OM6932 Việt Nam S12 Norin PL9 Nhật Bản S27 RufIL19 Nhật Bản S13 RufIL3 Nhật Bản S28 OM5964 Việt Nam Nguyễn Quốc Trung, Lê Văn Trung, Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Thị Thùy Dương, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Văn Hoan, Phạm Văn Cường 463 Bảng 2. Danh sách các chỉ thị khảo sát trên 12 nhiễm sắc thể McCouch, 2002 TT Chỉ thị SSR NST Trình tự Điều kiện PCR Mồi xuôi Mồi ngược Nhiệt độ gắn mồi Số chu kỳ 1 RM495 1 aatccaaggtgcagagatgg caacgatgacgaacacaacc 55 30 2 RM1 1 gcgaaaacacaatgcaaaaa gcgttggttggacctgac 55 30 3 RM283 1 gtctacatgtacccttgttggg cggcatgagagtctgtgatg 61 30 4 RM259 1 tggagtttgagaggaggg cttgttgcatggtgccatgt 55 30 5 RM312 1 gtatgcatatttgataagag aagtcaccgagtttaccttc 55 30 6 RM5 1 tgcaacttctagctgctcga gcatccgatcttgatggg 57 30 7 RM237 1 caaatcccgactgctgtcc tgggaagagagcactacagc 55 30 8 RM431 1 tcctgcgaactgaagagttg agagcaaaaccctggttcac 55 30 9 RM154 2 accctctccgcctcgcctcctc ctcctcctcctgcgaccgctcc 61 30 10 RM452 2 ctgatcgagagcgttaaggg gggatcaaaccacgtttctg 61 30 11 RM489 3 acttgagacgatcggacacc tcacccatggatgttgtcag 55 30 12 OSR13 3 catttgtgcgtcacggagta agccacagcgcccatctctc 53 40 13 RM338 3 cacaggagcaggagaagagc ggcaaaccgatcactcagtc 55 40 14 RM55 3 ccgtcgccgtagtagagaag tcccggttattttaaggcg 55 30 15 RM514 3 agattgatctcccattcccc cacgagcatattactagtgg 55 30 16 RM307 4 gtactaccgacctaccgttcac ctgctatgcatgaactgctc 55 30 17 RM124 4 atcgtctgcgttgcggctgctg catggatcaccgagctcccccc 67 30 18 RM507 5 cttaagctccagccgaaatg ctcaccctcatcatcgcc 55 30 19 RM413 5 ggcgattcttggatgaagag tccccaccaatcttgtcttc 53 30 20 RM161 5 tgcagatgagaagcggcgcctc tgtgtcatcagacggcgctccg 61 30 21 RM178 5 tcgcgtgaaagataagcggcgc gatcaccgttccctccgcctgc 69 30 22 RM334 5 gttcagtgttcagtgccacc gactttgatctttggtggacg 55 30 23 RM133 6 ttggattgttttgctggctcgc ggaacacggggtcggaagcgac 63 30 24 RM510 6 aaccggattagtttctcgcc tgaggacgacgagcagattc 57 30 25 RM454 6 ctcaagcttagctgctgctg gtgatcagtgcaccatagcg 55 30 26 RM162 6 gccagcaaaaccagggatccgg caaggtcttgtgcggcttgcgg 61 30 27 RM125 7 atcagcagccatggcagcgacc aggggatcatgtgccgaaggcc 63 30 28 RM11 7 tctcctcttcccccgatc atagcgggcgaggcttag 55 30 29 RM455 7 aacaacccaccacctgtctc agaaggaaaagggctcgatc 57 30 30 RM118 7 ccaatcggagccaccggagagc cacatcctccagcgacgccgag 67 30 31 RM408 8 caacgagctaacttccgtcc actgctacttgggtagctgacc 55 30 32 RM152 8 gaaaccaccacacctcaccg ccgtagaccttcttgaagtag 53 40 33 RM25 8 ggaaagaatgatcttttcatgg ctaccatcaaaaccaatgttc 53 40 34 RM44 8 acgggcaatccgaacaacc tcgggaaaacctaccctacc 53 30 35 RM284 8 atctctgatactccatccatcc cctgtacgttgatccgaagc 55 30 36 RM433 8 tgcgctgaactaaacacagc agacaaacctggccattcac 53 40 37 RM447 8 cccttgtgctgtctcctctc acgggcttcttctccttctc 55 30 38 RM316 9 ctagttgggcatacgatggc acgcttatatgttacgtcaac 55 30 39 RM105 9 gtcgtcgacccatcggagccac tggtcgaggtggggatcgggtc 63 30 40 RM215 9 caaaatggagcagcaagagc tgagcacctccttctctgtag 55 30 41 RM474 10 aagatgtacgggtggcattc tatgagctggtgagcaatgg 55 30 42 RM271 10 tcagatctacaattccatcc tcggtgagacctagagagcc 55 30 43 RM171 10 aacgcgaggacacgtacttac acgagatacgtacgcctttg 55 40 44 RM484 10 tctccctcctcaccattgtc tgctgccctctctctctctc 55 30 45 RM552 11 cgcagttgtggatttcagtg tgctcaacgtttgactgtcc 55 30 46 RM536 11 tctctcctcttgtttggctc acacaccaacacgaccacac 55 30 47 RM287 11 ttccctgttaagagagaaatc gtgtatttggtgaaagcaac 55 30 48 RM144 11 tgccctggcgcaaatttgatcc gctagaggagatcagatggtagtgcatg 57 30 49 RM19 12 caaaaacagagcagatgac ctcaagatggacgccaaga 55 30 50 RM277 12 cggtcaaatcatcacctgac caaggcttgcaagggaag 55 30 Đánh giá đa dạng di truyền một số giống lúa ngắn ngày 464 Kỹ thuật PCR đánh giá đa dạng di truyền sử dụng bộ chuẩn 50 chỉ thị SSR được tham khảo từ Chương trình khai thác đa dạng di truyền trong cải tiến giống cây trồng Generation Challenge Program, Consultative Group on International Agricultural Research - CGIAR. Các chỉ thị này được phân bố đều trên 12 nhiễm sắc thể McCouch, 2002 Bảng 2. Sản phẩm PCR được kiểm tra trên gel Agarose 4% và quan sát bằng đèn chiếu UV. Xây dựng sơ đồ đa dạng di truyền bằng phần mềm NTSYS sử dụng “Hệ số tương đồng Jaccard” và phương pháp UPGMA trong NTSYS Hệ số PIC Polymorphic Information content của mỗi locus SSR được tính theo công thức PIC i = 1 - Pij2 Botstein, 1980 . Trong đó, I là số locus SSR tương ứng; j là số thứ tự allen của locus SSR và Pij là tần suất allen thứ j với locus SSR thứ i. 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Kết quả đánh giá các giai đoạn sinh trưởng Động thái xuất hiện lá ở các giống thể hiện khá đa dạng, các mẫu giống ra lá thứ nhất sớm nhất là 5 ngày S13, S23 và 6 ngày S6, S11, S12. Tổng thời gian cho cây mạ xuất hiện 2 lá ngắn nhất ở mẫu giống S13 là 11 ngày; S15 và S23 là 12 ngày; dài nhất ở các mẫu giống S2, S9, S20, S21, S22, S24 là 19 ngày. Động thái xuất hiện lá ở giai đoạn mạ dài, ngắn có ở cả các mẫu giống có nguồn gốc Nhật Bản Japonica, IRRI và Việt Nam Indica. Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến lúc lúa trỗ bông, giai đoạn này kéo dài khoảng 27-35 ngày. Theo kết quả ở hình 1, thời gian từ gieo đến phân hóa đòng bước 4 có sự dao động tương đối lớn từ 60 tới 81 ngày, riêng dài ngày VN10 là 132 ngày. Như vậy, giai đoạn phân hóa đòng có sự dao động lớn nhất về thời gian sinh trưởng, các mẫu giống ngắn ngày bắt buộc phải sinh trưởng nhanh nhất vào thời điểm này. Nhóm có thời gian ngắn nhất 60-65 ngày S4, S18, S19 và S20. Giai đoạn trỗ bông bắt đầu khi các hoa đầu tiên của bông nhô ra đòng đến khi lóng trên cùng không dài ra được nữa. Độ dài giai đoạn này dao động 8 ngày giữa giống ngắn nhất, 13 ngày S8, S9 và S12, với giống dài nhất 22 ngày S20. Hình 1. Tổng hợp các giai đoạn sinh trưởng từ gieo đến trỗ của 24 mẫu giống nghiên cứu trong vụ xuân 2013 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam Nguyễn Quốc Trung, Lê Văn Trung, Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Thị Thùy Dương, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Văn Hoan, Phạm Văn Cường 465 Từ kết quả thể hiện ở hình 1, tổng độ dài, ngắn của thời gian sinh trưởng chủ yếu phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng. Giai đoạn phân hóa đòng và giai đoạn chín các mẫu giống không biến động nhiều. Tốc độ ra lá nhanh hay chậm cũng không đồng nghĩa với mẫu giống ngắn hay dài ngày. Trường hợp hai mẫu giống S18 và S19 có tốc độ ra lá 1 và lá 2 cũng nằm trong khoảng giá trị trung bình nhưng thời gian sinh trưởng sinh dưỡng rút ngắn đi rất nhiều nên tổng thời gian ngắn nhất trong các vật liệu nghiên cứu từ gieo tới trỗ tương ứng 74-76 ngày trong vụ Xuân. Kết quả phân tích đa dạng di truyền bằng chỉ thị SSR Trong 50 chỉ thị SSR được sử dụng có 19 chỉ thị xuất hiện vạch đơn hình; 31 chỉ thị xuất hiện vạch đa hình với tổng số 71 alen trong đó có 66 alen đa hình và 5 alen đơn hình ở OSR13, RM152, RM316, RM334, RM552. Chỉ thị RM474 có hệ số đa dạng cao nhất là 0,61 Bảng 3. Hình 2. Kết quả điện di sản phẩm PCR trên gel agarose 4% với một số SSR Ghi chú Từ trái qua phải S1->S28 và DNA ladder 100bp Kết quả phân tích khoảng cách di truyền bằng phương pháp UPGMA trong NTSYS thể hiện trong hình 3. Với độ tương đồng di truyền ở mức 0,78 có thể chia các mẫu giống thành 5 nhóm Nhóm 1 Gồm các mẫu giống Japonica Asominori, NorinPL9, IRRI142 và Agamimi. Nhóm 2 Mẫu giống IndicaMTL163 Nhóm 3 Gồm các giống Indica có nguồn gốc từ viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long và một số mẫu giống khác. Trong đó, 2 mẫu giống ngắn ngày nhất là P6ĐB và Kim23B có khoảng các di truyền khá gần nhau. Ở độ tương đồng 0,94 chưa thể phân biệt được 2 mẫu giống là Hoa sữa và OM6932. Nhóm 4 Các giống IndicaIR24 và 2 dòng CSSLs Chromosome segment substitution lines RufIL3 và RufIL19 có nền gen của IR24 mang một đoạn của nhiễm sắc thể số 1 và 5 tương ứng từ Oryza rufipogon do phòng thí nghiệm Chọn giống cây trồng, Đại học Kyushu phát triển. Nhóm 5 Nhóm các giống Indica đều được đánh giá có tiềm năng năng suất cao, tính thích nghi rộng như KD18, AD11, OM5524, IRRI108 và VN10. Trong đó quan hệ di truyền giữa KD18 và AD11 đã thể hiện rất rõ quá trình chọn tạo mẫu giống AD11 từ phép lai của KD18. So sánh sự phân nhóm trên với độ dài các giai đoạn sinh trưởng ở hình 1 nhận thấy 2 mẫu giống ngắn ngày nhất là P6ĐB và Kim23B đều nằm ở nhóm 3. Kết quả đánh giá đa dạng di truyền thể hiện rõ nguồn gốc các mẫu giống thuộc Japonica hay Indica, các mẫu giống có thời gian sinh trưởng ngắn có ở cả 2 nhóm Japonica Agamimi, Norin PL9 và Indica Kim23B, P6ĐB…. Vì vậy, chưa thấy được mối liên hệ rõ ràng giữa các phân nhóm theo chỉ thị SSR và theo thời gian sinh trưởng. Theo kết quả đánh giá trên, chúng tôi nhận thấy bộ 50 marker SSR sử dụng trong nghiên cứu đã đánh giá khá chính xác mối quan hệ di truyền giữa các mẫu giống nghiên cứu. Đánh giá đa dạng di truyền một số giống lúa ngắn ngày 466 Bảng 3. Hệ số đa dạng di truyền của các chỉ thị SSR và điều kiện PCR tương ứng TT Chỉ thị SSR NST Hệ số đa dạng TT Chỉ thị SSR NST Hệ số đa dạng Tổng số alen Số alen đa hình PIC* Tổng số alen Số alen đa hình PIC* 1 RM495 1 2 0 - 26 RM162 6 2 0 - 2 RM1 1 2 0 - 27 RM125 7 2 2 0,34 3 RM283 1 2 2 0,28 28 RM11 7 2 0 - 4 RM259 1 2 2 0,48 29 RM455 7 2 2 0,44 5 RM312 1 3 3 0,23 30 RM118 7 2 0 - 6 RM5 1 3 3 0,29 31 RM408 8 2 2 0,34 7 RM237 1 2 0 - 32 RM152 8 2 1 0,32 8 RM431 1 2 0 - 33 RM25 8 2 2 0,44 9 RM154 2 3 3 0,54 34 RM44 8 2 0 - 10 RM452 2 2 0 - 35 RM284 8 2 2 0,42 11 RM489 3 3 3 0,53 36 RM433 8 2 0 - 12 OSR13 3 2 1 0,5 37 RM447 8 2 2 0,48 13 RM338 3 2 0 - 38 RM316 9 2 1 0,36 14 RM55 3 2 0 - 39 RM105 9 3 3 0,49 15 RM514 3 3 3 0,53 40 RM215 9 2 2 0,14 16 RM307 4 2 0 - 41 RM474 10 3 3 0,61 17 RM124 4 2 0 - 42 RM271 10 2 0 - 18 RM507 5 2 0 - 43 RM171 10 2 2 0,28 19 RM413 5 3 3 0,53 44 RM484 10 2 0 - 20 RM161 5 2 2 0,28 45 RM552 11 2 1 0,24 21 RM178 5 2 0 - 46 RM536 11 2 2 0,22 22 RM334 5 2 1 0,42 47 RM287 11 3 3 0,56 23 RM133 6 2 0 - 48 RM144 11 2 2 0,22 24 RM510 6 2 2 0,50 49 RM19 12 2 2 0,42 25 RM454 6 2 2 0,28 50 RM277 12 2 2 0,38 Ghi chú * polymorphic information content Hình 3. Sơ đồ quan hệ di truyên 24 mẫu giống nghiên cứu xác định bằng chỉ thị SSR Nguyễn Quốc Trung, Lê Văn Trung, Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Thị Thùy Dương, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Văn Hoan, Phạm Văn Cường 467 4. KẾT LUẬN Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng từ xuất hiện 2 lá đến phân hóa đòng quyết định tổng thời gian sinh trưởng của các mẫu giống lúa ngắn ngày. Mẫu giống lúa P6ĐB và Kim23B có thời gian sinh trưởng sinh dưỡng ngắn nhất 60-62 ngày. Sử dụng chỉ thị SSR đánh giá đa dạng di truyền đã thể hiện rất tốt sự tương đồng di truyền và phân biệt các mẫu giống nghiên cứu thành 2 nhóm chính Japonica và Indica, trong đó nhóm Indica được chia thành 4 nhóm nhỏ với hệ số di truyền 0,78. Hai mẫu giống ngắn ngày P6ĐB và Kim23B có quan hệ di truyền khá gần nhau ~ 0,86. LỜI CẢM ƠN Nhóm tác giả xin cảm ơn sự hỗ trợ thiết bị và vật liệu từ dự án Cải tiến mẫu giống cây trồng cho miền núi và trung du phía Bắc JICA-DCGV. TÀI LIỆU THAM KHẢO Botstein D, White RL, Skolnick M and Davis RW 1980. Construction of genetic linkage map in man using restriction fragment length polymorphisms. Am J Hum Genet 32 314-331. Doyle, and Doyle 1987. A rapid DNA isolationprocedure for small quantities of fresh leaf tissue. Phytochem Bull 19 11-15. IRRI 2002. Standard Evaluation of Rice. International Rice Rearch Institute, LosPanos, Philippines. McCouch S. R., L. Teytelman, Y. Xu, K. B. Lobos, K. Clare, et. al. 2002. Developmentof 2240 new SSR markers for rice Oryza sativa L.. DNA research, 9 6 199 - 207. Monaco Stein J., Naithani S., Wei S., Dharmawardhana P., Kumari S., Amarasinghe V., Youens-Clark K, Thomason J, Preece J, Pasternak S, Olson A, Jiao Y, Lu Z, Bolser D, Kerhornou A, Staines D, Walts B, Wu G, D'Eustachio P, Haw R, Croft D, Kersey PJ, Stein L, Jaiswal P, Ware D 2013. Gramene 2013 comparative plant genomics resources. Nucleic Acids Res. PMID 24217918. ResearchGate has not been able to resolve any citations for this Evaluation of Rice. International Rice Rearch InstituteIrriIRRI 2002. Standard Evaluation of Rice. International Rice Rearch Institute, LosPanos, 2240 new SSR markers for riceS R MccouchL TeytelmanY XuK B LobosK ClareMcCouch S. R., L. Teytelman, Y. Xu, K. B. Lobos, K. Clare, et. al. 2002. Developmentof 2240 new SSR markers for rice Oryza sativa L.. DNA research, 9 6 199 2013 comparative plant genomics resourcesM K MonacoJ SteinS NaithaniS WeiP DharmawardhanaS KumariV AmarasingheK Youens-ClarkJ ThomasonJ PreeceS PasternakA OlsonY JiaoZ LuD BolserA KerhornouD StainesB WaltsG WuD 'eustachioP HawR CroftD KerseyP J SteinL JaiswalP WareMonaco Stein J., Naithani S., Wei S., Dharmawardhana P., Kumari S., Amarasinghe V., Youens-Clark K, Thomason J, Preece J, Pasternak S, Olson A, Jiao Y, Lu Z, Bolser D, Kerhornou A, Staines D, Walts B, Wu G, D'Eustachio P, Haw R, Croft D, Kersey PJ, Stein L, Jaiswal P, Ware D 2013. Gramene 2013 comparative plant genomics resources. Nucleic Acids Res. PMID 24217918. Theo Cục Trồng trọt Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong thời gian vừa qua, do mưa lớn và lốc xoáy cục bộ đã ảnh hưởng đến sản xuất lúa, rau màu tại một số tỉnh vùng Bắc Trung bộ. Theo dự báo của Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia, dự báo khoảng từ giữa tháng 6 có khả năng bão hoặc áp thấp nhiệt đới bắt đầu xuất hiện trên khu vực Biển Đông và phù hợp với quy luật khí hậu. Nắng nóng có khả năng gia tăng hơn từ khoảng tháng 5-7/2023 và tập trung nhiều tại khu vực Bắc bộ và Trung bộ. Hiện nay, lúa Đông Xuân tại các tỉnh Bắc Trung bộ đã trỗ, chín sữa, một số diện tích trà sớm đã bắt đầu thu hoạch. Tại các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi phía Bắc, lúa đang giai đoạn phân hóa đòng, một số diện tích lúa gieo cấy sớm đã trỗ. Để chủ động ứng phó với thời tiết bất thường, đảm bảo sản xuất thắng lợi vụ Đông Xuân và triển khai sản xuất vụ Hè Thu, Mùa và vụ Đông 2023 theo kế hoạch, Cục Trồng trọt đề nghị Sở NN&PTNT các tỉnh Bắc Trung bộ, đối với diện tích lúa, rau màu bị ảnh hưởng do mưa, lốc xoáy gây ra, huy động tối đa nhân lực để bơm tiêu úng nội đồng, khoanh vùng để tiêu thoát nước kịp thời. Đồng thời rà soát diện tích bị ảnh hưởng, báo cáo kịp thời về Bộ NN&PTNT. Đối với diện tích lúa đã đến thời kỳ thu hoạch cần bố trí tối đa nguồn nhân lực, máy móc khẩn trương thu hoạch nhanh, gọn diện tích lúa Đông Xuân đã chín với phương châm “xanh nhà hơn già đồng” để tránh thiệt hại do những đợt mưa dông bất thường gây ra. Trên các diện tích đã thu hoạch triển khai cày lồng vùi rơm rạ sớm, kết hợp xử lý chế phẩm sinh học để phân hủy nhanh rơm rạ, hạn chế ngộ độc hữu cơ với lúa vụ sau, đồng thời hạn chế cầu nối sâu bệnh cho vụ sau. Cục Trồng trọt yêu cầu các địa phương sớm xây dựng kế hoạch, phương án sản xuất vụ Hè Thu và vụ Mùa phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương, đảm bảo kế hoạch, thời vụ thu hoạch trà lúa Hè Thu chạy lụt sớm thu hoạch trước ngày 5/9, đối với vùng thấp trũng thu hoạch trước 20/8. Đối với các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi phía Bắc, Cục Trồng trọt đề nghị giữ nước mặt ruộng đảm bảo đủ nước cho cây lúa trong giai đoạn làm đòng, trỗ bông, vào chắc nhằm hạn chế tác động của nắng nóng. Với diện tích lúa chuẩn bị phân hóa đòng ở một số vùng núi phía Bắc chỉ đạo tiến hành bón đón đòng kịp thời; bón bổ sung Kaliclorua và cân đối NPK để lúa sinh trưởng phát triển tốt, quần thể đồng đều, trỗ tập trung. Đồng thời, các địa phương chủ động xây dựng kế hoạch, phương án sản xuất vụ Mùa phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương, đảm bảo kế hoạch, thời vụ thu hoạch trà lúa Mùa sớm ở các tỉnh thu hoạch trước ngày 25/9 để tạo quỹ đất làm cây vụ Đông ưa ấm. Hạn chế việc gieo thẳng ở những vùng thấp trũng, không chủ động tưới tiêu, thường xuyên bị ngập úng. Bên cạnh đó, Cục Trồng trọt yêu cầu Sở NN&PTNT các tỉnh, thành phố phía Bắc tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết và sâu, bệnh hại để chủ động phòng trừ sớm như bệnh đạo ôn cổ bông, bệnh bạc lá, sâu cuốn lá, rầy nâu,… trên tất cả các trà lúa, chú ý những giống nhiễm sâu bệnh, vùng ổ dịch, chân đất trũng thấp. Các tỉnh chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch, phương án gieo cấy lúa vụ Hè Thu, vụ Mùa và vụ Đông 2023, theo định hướng Mở rộng diện tích các giống lúa cực ngắn và ngắn ngày có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu được với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận; mở rộng hợp lý tỷ lệ diện tích trà Mùa sớm và cực sớm, hạn chế gieo cấy giống nhiễm và nhạy cảm với bệnh bạc lá trên chân đất thấp trũng, vùng thường xuyên bị bạc lá; chủ động rà soát những diện tích gieo cấy lúa kém hiệu quả để chuyển đổi sang các loại cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn. Đối với cây rau, màu, tiến hành rà soát diện tích gieo trồng của từng chủng loại, tuyên truyền tập huấn cho nông dân về sản xuất an toàn, ưu tiên phát triển những loại rau có đầu ra, có hợp đồng bao tiêu sản phẩm, tránh sản xuất quá tập trung 1 loại gây dư thừa sản phẩm, giảm giá, giảm hiệu quả sản xuất. Đi cùng với đó, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc sản xuất, kinh doanh giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, đảm bảo cung cấp ổn định và đảm bảo chất lượng các vật tư nông nghiệp phục vụ sản xuất. Phân công lãnh đạo, cán bộ chuyên môn bám sát cơ sở, tăng cường công tác dự tính, dự báo, thông tin tuyên truyền hướng dẫn nông dân thực hiện các biện pháp kỹ thuật, nhằm khắc phục kịp thời ảnh hưởng của thời tiết và sâu bệnh hại đến cây trồng./. Giống lúa lai 2 dòng Thiên Trường 217 có thời gian sinh trưởng vụ mùa khoảng 100 ngày, rất thuận lợi đưa vào cơ cấu đất lúa có sản xuất vụ đông ở phía Bắc. Công ty Cổ phần Giống cây trồng Bắc Ninh phối hợp với Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện Nghi Lộc, UBND xã Nghi Hưng Nghệ An và các hộ sản xuất lúa trên địa bàn vừa tiến hành đánh giá kết quả mô hình gieo cấy giống lúa lai hai dòng Thiên Trường 217 trong vụ xuân 2023. Mô hình được triển khai tại xóm 1, 2, 3, 6 xã Nghi Hưng với quy mô 40ha. Mô hình gieo cấy giống lúa lai hai dòng Thiên Trường 217 trong vụ xuân 2023 tại xã Nghi Hưng Nghi Lộc, Nghệ An có quy mô 40ha. Thiên Trường 217 là giống lúa lai hai dòng có chất lượng gạo ngon hàng đầu hiện nay với nhiều ưu điểm nổi bật như gạo trắng trong, vị đậm, khi nấu lên có mùi thơm hấp dẫn, để nguội vẫn còn mùi thơm… Đây là giống lúa lai do các nhà khoa học trong nước nghiên cứu, chọn tạo. Theo đánh giá của UBND xã Nghi Hưng và thực tế quá trình sinh trưởng, phát triển của giống lúa Thiên Trường 217 mà các hộ trồng ghi nhận được cho thấy, giống lúa này có thời gian sinh trưởng trung bình từ 120 – 125 ngày ngày gieo 28/1, dự kiến thu hoạch 27 – 31/5; đẻ nhánh khoẻ và tập trung, số nhánh hữu hiệu cao; giống trổ thoát nhanh, thời gian trổ tập trung trong vòng 4 – 5 ngày. Ưu điểm của Thiên Trường 217 là số hạt chắc trên bông cao; số hạt trung bình/bông là 175 hạt. Năng suất dự kiến đạt hơn 69 tạ/ha. Vvụ xuân 2023 thời tiết diễn biến khá phức tạp, ảnh hưởng đến quá trình trổ bông của cây lúa và tạo điều kiện thuận lợi cho một số đối tượng sâu bệnh phát sinh gây hại. Tuy nhiên, quá trình theo dõi thực tế ngoài đồng ruộng cho thấy giống Thiên Trường 217 có khả năng chống chịu sâu bệnh hại tốt, không nhiễm bệnh đạo ôn và bạc lá; nhiễm sâu cuốn lá nhỏ với mật độ thấp; nhiễm khô vằn trên diện tích gieo cấy mật độ dày… Đông đảo người dân trong vùng tới tham quan mô hình và đánh giá cao tiềm năng năng suất cũng như khả năng chống chịu bệnh đạo ôn, bạc lá của giống lúa Thiên Trường 217. Theo đại diện UBND xã Nghi Hưng, qua xây dựng mô hình trồng giống lúa Thiên Trường 217 trong vụ xuân 2023 nhận thấy giống lúa này có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, khả năng thâm canh cao, thích ứng rộng, chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất thuận và một số đối tượng sâu bệnh hại; phù hợp điều kiện đồng đất, khí hậu, kinh nghiệm thâm canh của nông dân trong vùng. Do đó, UBND xã sẽ nghiên cứu đưa giống lúa Thiên Trường 217 vào cơ cấu giống trong vụ đông xuân các năm tiếp theo và tiếp tục khảo nghiệm trong vụ hè thu 2023. Tại buổi đánh giá, cán bộ kỹ thuật Công ty Cổ phần Giống cây trồng Bắc Ninh khuyến cáo Lúa lai hai dòng Thiên Trường 217 chín nhanh, khả năng nảy mầm trên cây trung bình, hạt thóc có màu vàng sáng, các hộ nên thu hoạch khi ruộng lúa chín vừa từ 85 – 90% để hạn chế thất thoát, tăng chất lượng hạt gạo hạt gạo đẹp, dẻo và thơm hơn. Đối với việc phơi và bảo quản, phơi khi thóc khô, độ ẩm 13 – 14% tiến hành quạt sạch, đưa vào bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát để đảm bảo chất lượng. Sau khoảng 7 – 10 ngày mới đem đi xay xát sẽ giúp tăng phẩm chất và chất lượng của hạt gạo, giảm tỉ lệ gãy nát khi xay xát, tăng tỷ lệ gạo nguyên hạt. Năng suất dự kiến của giống lúa Thiên Trường 217 trong mô hình tại xã Nghi Hưng đạt hơn 69 tạ/ha. Cùng với việc triển khai mô hình tại Nghệ An, vụ xuân 2023, Công ty Cổ phần Giống cây trồng Bắc Ninh còn tiến hành trình diễn giống lúa Thiên Trường 217 tại nhiều tỉnh phía Bắc như Bắc Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Tuyên Quang, Hà Giang, Lạng Sơn và Cao Bằng, mỗi tỉnh 10 – 20ha. Đến nay, qua đánh giá, các trà lúa đều sinh trưởng, phát triển tốt và có tiềm năng năng suất hết sức khả quan. Vụ mùa 2023, Công ty tiếp tục mở rộng diện tích canh tác lúa Thiên Trường 217 tại các tỉnh phía Bắc trên nhiều chân đất, đặc biệt là những vùng sản xuất cây vụ đông bởi giống có ưu thế thời gian sinh trưởng ở vụ mùa xung quanh 100 ngày nên việc đưa Thiên Trường 217 vào sản xuất vụ mùa, sau đó canh tác cây vụ đông trên cùng một chân đất là lựa chọn hết sức hợp lý, rút ngắn được thời gian so với các giống lúa khác khoảng 10 ngày. Trên chân đất trồng lúa Thiên Trường 217 có thể trồng rau màu, bí xanh, cà chua… giúp tăng thu nhập cho nông dân rất tốt. Ngày 22/11/2022, Cục Trồng trọt Bộ NN-PTNT đã ban hành Quyết định Số 359/QĐ-TT-CLT về việc công nhận lưu hành giống cây trồng đối với giống lúa lai hai dòng Thiên Trường 217. Mã số lưu hành Thời gian lưu hành 10 năm kể từ ngày ký quyết định. Trung Quân Gene HD9 rút ngắn thời gian sinh trưởng ở cây lúa trong điều kiện địa lý, thổ nhưỡng và khí hậu đặc thù của Việt Nam mới đây đã được lập bản đồ và các vật liệu mang gene này hoàn toàn có thể ứng dụng để rút ngắn thời gian sinh trưởng của bộ giống lúa của nước ta. Ngày 23/5/2016, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt đề án “Tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” với mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh lúa gạo, làm cơ sở đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, tạo thêm việc làm, và tăng thu nhập cho người nông dân. Một yêu cầu quan trọng của đề án là phải hình thành được các giống lúa có thời gian sinh trưởng TGST ngắn hơn với năng suất và chất lượng tương dụng các giống có TGST ngắn trước hết sẽ tăng hiệu quả sử dụng diện tích đất nông nghiệp. Thời gian cho một vụ ngắn lại đồng nghĩa với giảm công chăm sóc, chi phí phân bón, giảm nguy cơ bị sâu bệnh hại, trong khi thời gian nghỉ của đất tăng, tạo thuận lợi cho luân canh tăng vụ. Ngoài ra, giống lúa có TGST ngắn còn giúp xây dựng cơ cấu mùa vụ linh hoạt, tránh được rét hại cho mạ trong vụ Xuân ở miền Bắc, hay tránh được hạn và mặn đang xảy ra thường xuyên ở miền Trung Tây Nguyên và Nam gian sinh trưởng giảm 9-14 ngày, năng suất không đổiVậy làm sao để lai chọn được các giống lúa có TGST ngắn một cách bền vững và hiệu quả nhất? Câu trả lời nằm ở việc Cần tìm ra và tích hợp vào các giống hiện hành các gene tăng tốc độ sinh trưởng cây lúa. Theo một tổng kết về lịch sử phát triển cây lúa Việt Nam trong 80 năm qua, TGST của các giống lúa đã liên tục được cải tiến rút ngắn, từ 240-245 ngày trong giai đoạn 1945-1957 đến hiện nay còn 125-135 ngày trong vụ Xuân và 90-110 ngày trong vụ một cách dễ hiểu, cây lúa là loài ra hoa phụ thuộc vào quang chu kỳ, thời gian chiếu sáng trong ngày càng ngắn thì cây lúa ra hoa càng sớm. Cho đến nay, các gene tham gia điều khiển ra hoa ở cây lúa được xác định trên thế giới đều phụ thuộc vào quang chu kỳ. Trong khi ở Việt Nam, các giống lúa hiện nay đã không còn mẫn cảm với quang chu kỳ nữa sau quá trình chọn lọc và phát triển. Vì vậy, muốn sử dụng gene điều khiển TGST trong cải tiến các giống lúa thì cần phải tiến hành các nghiên cứu từ đầu trên các giống lúa và trong điều kiện sinh thái đặc trưng của nước lúa cực ngắn ngày mới DCG72 SRYT3 được mùa tại Nghệ An, tháng 8/2017. Ảnh do tác giả bài viết cung cấpLà một trong những nhóm tiên phong trong lĩnh vực này, nhóm nghiên cứu tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã thành công trong việc xác định và lập bản đồ gene HD9 rút ngắn TGST ở cây lúa trong điều kiện địa lý, thổ nhưỡng và khí hậu đặc thù của Việt thể, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu lập bản đồ với mục tiêu là xác định QTL/ gene điều khiển thời gian trỗ sớm ở các giống lúa indica ở điều kiện khí hậu miền Bắc Việt Nam. Quần thể BC2F2 gồm 93 cây từ phép lai giữa giống Khang Dân 18 KD18 và TSC3 được đánh giá phân ly về thời gian trỗ trong vụ Mùa 2014. Kết quả, chúng tôi đã chỉ ra gene HD9 di truyền theo quy luật Mendel và là gene trội, có chức năng rút ngắn kết quả thu được, chúng tôi thử sử dụng gene HD9 trong lai cải tiến rút ngắn TGST của giống lúa KD18. Từ năm 2012 đến 2015, nhóm nghiên cứu đã tiến hành lai tạo và cải tiến giống KD18 bằng phương pháp MABC Marker-Assisted Back-Crossing. Kết quả đã chọn tạo thành công được 4 dòng lúa cải tiến mới mang gene HD9. TGST được rút ngắn 9-14 ngày so với giống KD18 ban đầu, đồng thời, vẫn duy trì các đặc điểm cũng như năng suấtcủa giống nghi với các loại thổ nhưỡng và khí hậu khác nhauXa hơn, chúng tôi mang áp dụng kết quả nghiên cứu khoa học thu được vào nhiều vùng có các đặc điểm thổ nhưỡng và khí hậu khác nhau. Thực tế cho thấy giống lúa cải tiến mang gene HD9 không mẫn cảm với quang chu kỳ và thích nghi tốt với các điều kiện sinh thái khác nhau trên cả nghiệm được tiến hành trong vụ Mùa 2015 tại 3 địa điểm đặc trưng cho vùng sinh thái, là vùng núi phía Bắc tại Lào Cai vĩ Bắc, đồng bằng sông Hồng tại Hà Nội vĩ Bắc và đồng bằng sông Cửu Long tại Sóc Trăng vĩ Bắc.Kết quả, sau khi đánh giá các đặc điểm sinh trưởng và năng suất của 4 dòng cải tiến, chúng tôi nhận thấy chúng đều tương đương với giống gốc KD18, trong khi TGST được rút ngắn 12-14 ngày. Chúng tôi đã áp dụng kết quả này vào vụ mùa thực tế tại Nghệ An xem ảnh.Điều lý thú là, sự ổn định về TGST cũng như chức năng của gene HD9 được chứng tỏ bằng sự thích nghi rất tốt của dòng cải tiến mới với các điều kiện sinh thái khác nhau của Việt Nam. Đây là kết quả công bố đầu tiên về dòng/giống ngắn ngày có phổ thích ứng rộng có thể canh tác ở cả 2 miền Bắc và Nam, có ý nghĩa quan trọng đối với giống lúa đảm bảo an ninh lương thực cho nước ta trong bối cảnh biến đổi khí hậu phức ra, các vật liệu mang gene HD9 và phương pháp chọn tạo giống mới cần thời gian ngắn hơn các phương pháp cũ nhờ sử dụng công cụ chỉ thị DNA genome-wide selection hoàn toàn có thể ứng dụng để rút ngắn TGST của bộ giống lúa hiện nay của Việt liệu tham khảoNguyễn Quốc Trung, Phạm Văn Cường 2015. Xác định gene quy định thời gian trỗ sớm ở cây lúa bằng phương pháp phân tích các điểm tính trạng số lượng QTL. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn số 21 Van Cuong, Nguyen Van Hoan 2014. Progress of Rice genotype improvement and production in Vietnam. Japanese Journal Of Crop Science, Vol. 83 Extra issue 1Pham Van Cuong, Nguyen Thanh Tung, Nguyen Quoc Trung, Nguyen Van Hoan 2015 Breeding new variety by improving Khangdan18 cultivar with shorter growth duration and medium amylose content. Journal of Agriculture and rural development, Special edition on crop and animal science, 37 - 43Masahiro Yano, Shoko Kojima, Yuji Takahashi, Hongxuan Lin, Takuji Sasaki 2001. Genetic Control of Flowering Time in Rice, a Short-Day Plant. Plant Physiology, December, Vol. 127, pp. 1425–1429 Vụ lúa đông xuân lập kỳ tích giữa hạn mặn, nông dân lãi 30-40%Trong bối cảnh hạn hán, xâm nhập mặn thậm chí còn khốc liệt hơn năm 2015 - 2016, nhưng vụ đông xuân 2019 - 2020 vẫn đạt được nhiều kỷ lục Năng suất, sản lượng tăng dù diện tích xuống giống giảm, lúa được giá, giúp nông dân có lợi nhuận...Sự thật không ngờ về cái tên X1X1 là tên giống lúa ngắn ngày đầu tiên ra đời tại miền Bắc trong thời kỳ chiến đó, những nhà khoa học của ta cần gửi giống lúa đi Viện lúa quốc tế, mà không có tên gì, bè...

giong lua ngan ngay